Đại diện phần vốn nhà nước có được xem là chủ sở hữu hưởng lợi?

Trong quá trình đăng ký và quản lý thông tin doanh nghiệp, việc xác định đại diện vốn nhà nước có là chủ sở hữu hưởng lợi hay không là nội dung cần được làm rõ. Pháp luật hiện hành loại trừ người đại diện phần vốn nhà nước khỏi khái niệm chủ sở hữu hưởng lợi đối với phần vốn được giao đại diện. Tuy nhiên, nếu cá nhân này đồng thời có phần sở hữu riêng hoặc quyền kiểm soát doanh nghiệp từ một tư cách khác thì vẫn phải xem xét theo quy định.

nguoi-dai-dien-von-nha-nuoc-khong-phai-chu-so-huu-huong-loi

Người đại diện vốn nhà nước không phải chủ sở hữu hưởng lợi.

Quy định về người đại diện vốn nhà nước và chủ sở hữu hưởng lợi

Người được giao đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp không được xác định là chủ sở hữu hưởng lợi đối với phần vốn Nhà nước mà mình đại diện. Nội dung này được quy định trực tiếp trong pháp luật về doanh nghiệp và đăng ký doanh nghiệp.

Khoản 35 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020 và Điều 17 Nghị định 168/2025/NĐ-CP xác định trường hợp người đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và người đại diện phần vốn nhà nước tại công ty cổ phần, công ty TNHH hai thành viên trở lên không thuộc phạm vi chủ sở hữu hưởng lợi.

Dù vậy, doanh nghiệp không nên hiểu quy định trên theo hướng cá nhân đang đại diện vốn Nhà nước được miễn toàn bộ nghĩa vụ xác định chủ sở hữu hưởng lợi. Nếu cá nhân đó có tài sản, cổ phần hoặc quyền kiểm soát riêng tại doanh nghiệp thì phần quyền này vẫn phải được xem xét độc lập.

Một số điểm cần lưu ý gồm:

  • Việc loại trừ gắn với phần vốn mà cá nhân đại diện cho Nhà nước, không phải với toàn bộ quyền và lợi ích của cá nhân.

  • Người đại diện vốn nhà nước vẫn có thể phải được xác định là chủ sở hữu hưởng lợi nếu đồng thời sở hữu phần vốn riêng đáp ứng điều kiện.

  • Tiêu chí sở hữu 25% chỉ là bước kiểm tra đầu tiên; doanh nghiệp còn phải xem xét quyền kiểm soát thực tế và phương án xác định người quản lý.

  • Khi áp dụng phương án xác định người quản lý có quyền hạn lớn nhất, người đại diện vốn nhà nước vẫn không thuộc nhóm được lựa chọn.

  • Việc kê khai không đúng thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi có thể làm phát sinh trách nhiệm xử phạt.

Căn cứ pháp lý về việc loại trừ người đại diện vốn nhà nước

Việc không xác định người đại diện vốn nhà nước là chủ sở hữu hưởng lợi được thể hiện tại nhiều quy định có liên quan. Do đó, doanh nghiệp cần xem xét đồng thời quy định về định nghĩa chủ sở hữu hưởng lợi và trình tự xác định đối tượng này.

Luật Doanh nghiệp loại trừ người đại diện ngay từ khái niệm chủ sở hữu hưởng lợi

Khoản 35 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020 được bổ sung bởi điểm d khoản 1 Điều 1 Luật số 76/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025.

Quy định này xác định chủ sở hữu hưởng lợi là cá nhân có quyền sở hữu trên thực tế đối với vốn điều lệ hoặc có quyền chi phối doanh nghiệp. Đồng thời, pháp luật loại trừ người đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và người đại diện phần vốn nhà nước tại công ty cổ phần, công ty TNHH hai thành viên trở lên.

Như vậy, việc người đại diện thực hiện quyền biểu quyết hoặc quyền của cổ đông, thành viên đối với phần vốn Nhà nước không làm phát sinh tư cách chủ sở hữu hưởng lợi cho chính cá nhân đó.

Đây là điểm cần phân biệt rõ: pháp luật không xác định người đại diện vốn nhà nước là chủ sở hữu hưởng lợi rồi mới loại trừ, mà ngay trong khái niệm chủ sở hữu hưởng lợi đã xác định trường hợp này không thuộc phạm vi áp dụng.

Điều 17 Nghị định 168/2025/NĐ-CP tiếp tục khẳng định nguyên tắc loại trừ

Điều 17 Nghị định 168/2025/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Điều 3 Nghị định 296/2026/NĐ-CP và có hiệu lực từ ngày 23/7/2026, quy định chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp có tư cách pháp nhân.

Theo đó, chủ sở hữu hưởng lợi là cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu hoặc kiểm soát cuối cùng trên thực tế đối với doanh nghiệp, nhưng không bao gồm cá nhân đại diện cho vốn nhà nước trong doanh nghiệp.

So với cách quy định cụ thể tại Luật Doanh nghiệp, Nghị định 168/2025/NĐ-CP sử dụng cách diễn đạt khái quát hơn khi đề cập đến “cá nhân đại diện cho vốn nhà nước trong doanh nghiệp”.

Điều này cho thấy phạm vi loại trừ được đặt trong chính cơ chế xác định chủ sở hữu hưởng lợi và không chỉ giới hạn ở một trường hợp cụ thể.

Người đại diện vốn nhà nước cũng bị loại khỏi phương án xác định dự phòng

Trường hợp không có cá nhân đáp ứng điều kiện sở hữu 25% hoặc tiêu chí kiểm soát thực tế, khoản 3 Điều 17 cho phép doanh nghiệp xác định cá nhân là người quản lý doanh nghiệp có quyền hạn lớn nhất để hành động thay mặt doanh nghiệp.

Tuy nhiên, quy định này đồng thời nêu rõ không áp dụng đối với cá nhân đại diện vốn nhà nước.

Vì vậy, trong trường hợp người đại diện vốn nhà nước đang giữ vị trí Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Tổng giám đốc, doanh nghiệp vẫn không được đưa cá nhân đó vào danh sách chủ sở hữu hưởng lợi theo phương án dự phòng.

Doanh nghiệp phải tiếp tục rà soát các cá nhân khác đáp ứng điều kiện hoặc xác định không có chủ sở hữu hưởng lợi nào khác nếu thực tế không có người phù hợp.

Lý do người đại diện vốn nhà nước không phải là người hưởng lợi từ phần vốn đại diện

Người đại diện phần vốn nhà nước thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với phần vốn theo nhiệm vụ được giao, không phải với tư cách chủ sở hữu cá nhân.

Quyền của người đại diện được hình thành từ quan hệ đại diện hoặc ủy quyền của cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, cá nhân này chịu sự chỉ đạo, giám sát và báo cáo theo các quy định về quản lý, đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Phần lợi ích kinh tế gắn với vốn Nhà nước thuộc về Nhà nước. Người đại diện không trở thành chủ sở hữu cá nhân đối với phần vốn chỉ vì được trao quyền thực hiện quyền của chủ sở hữu.

Trong khi đó, quy định về chủ sở hữu hưởng lợi hướng tới việc nhận diện cá nhân thực tế sở hữu hoặc kiểm soát doanh nghiệp, phục vụ yêu cầu minh bạch về quyền sở hữu và phòng, chống rửa tiền.

Do đó, quyền đại diện vốn Nhà nước không thể đồng nhất với quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát vì lợi ích kinh tế riêng của cá nhân.

xac-dinh-chu-so-huu-huong-loi-theo-ty-le-so-huu-va-quyen-kiem-soat
Xác định chủ sở hữu hưởng lợi theo tỷ lệ sở hữu và quyền kiểm soát.

Giới hạn của quy định loại trừ đối với người đại diện vốn nhà nước

Quy định loại trừ cần được áp dụng chính xác theo tư cách mà cá nhân đang thực hiện. Không nên mở rộng quy định này thành cơ chế miễn trừ cho cá nhân trong tất cả các giao dịch và quyền sở hữu tại doanh nghiệp.

Loại trừ tư cách đại diện, không loại trừ nghĩa vụ của cá nhân ở tư cách khác

Khoản 35 Điều 4 Luật Doanh nghiệp và Điều 17 Nghị định 168/2025/NĐ-CP chỉ loại trừ người đại diện trong phạm vi thực hiện quyền đối với phần vốn Nhà nước.

Nếu cùng cá nhân đó có một phần sở hữu riêng hoặc quyền kiểm soát được hình thành độc lập với việc đại diện vốn Nhà nước thì những quyền này vẫn phải được đưa vào quá trình xác định chủ sở hữu hưởng lợi.

Các trường hợp thuộc phạm vi loại trừ gồm người đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và người đại diện phần vốn nhà nước tại công ty cổ phần, công ty TNHH hai thành viên trở lên theo pháp luật về quản lý, đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Đối với các trường hợp ngoài phạm vi trên, doanh nghiệp phải áp dụng các tiêu chí chung để xác định chủ sở hữu hưởng lợi.

Có cổ phần riêng khi đang làm đại diện vốn nhà nước

Trên thực tế, một cá nhân có thể vừa được giao đại diện phần vốn Nhà nước vừa sở hữu cổ phần riêng tại cùng doanh nghiệp.

Khi đó, phần vốn Nhà nước vẫn thuộc trường hợp được loại trừ. Ngược lại, cổ phần thuộc sở hữu cá nhân phải được xem xét độc lập.

Doanh nghiệp cần kiểm tra tỷ lệ sở hữu trực tiếp, gián tiếp và khả năng cộng gộp với phần sở hữu của người có quan hệ gia đình theo khoản 22 Điều 4 Luật Doanh nghiệp.

Nếu phần sở hữu riêng đạt ngưỡng theo quy định hoặc cá nhân có quyền kiểm soát thực tế thì việc họ đang là người đại diện vốn Nhà nước không làm mất đi nghĩa vụ kê khai đối với phần quyền riêng này.

Những đối tượng vẫn phải được doanh nghiệp rà soát

Doanh nghiệp có vốn Nhà nước vẫn phải xác định các cá nhân có quyền sở hữu hoặc kiểm soát thực tế đối với phần vốn không thuộc trường hợp loại trừ.

Cá nhân nắm giữ tỷ lệ sở hữu từ 25% trở lên

Theo khoản 1 Điều 17 Nghị định 168/2025/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Nghị định 296/2026/NĐ-CP, cá nhân trực tiếp, gián tiếp hoặc vừa trực tiếp vừa gián tiếp sở hữu từ 25% vốn điều lệ hoặc từ 25% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên thuộc trường hợp xác định là chủ sở hữu hưởng lợi.

Đối với doanh nghiệp có vốn Nhà nước, tiêu chí này vẫn được áp dụng đối với các cổ đông, thành viên thuộc khu vực tư nhân.

Chẳng hạn, doanh nghiệp có Nhà nước nắm giữ phần vốn chi phối nhưng một cổ đông tư nhân sở hữu từ 25% tổng vốn điều lệ trở lên thì cổ đông đó vẫn phải được xem xét theo quy định về chủ sở hữu hưởng lợi.

Trường hợp sở hữu thông qua tổ chức trung gian, doanh nghiệp phải truy xét từng cấp trong chuỗi sở hữu để xác định cá nhân cuối cùng có quyền sở hữu hoặc kiểm soát thực tế.

Nhóm người có quan hệ gia đình cùng nắm giữ vốn

Doanh nghiệp cũng cần kiểm tra tổng thể quyền sở hữu của các cá nhân có quan hệ gia đình.

Theo khoản 1 Điều 17 Nghị định 168/2025/NĐ-CP, nhóm cá nhân có quan hệ gia đình theo khoản 22 Điều 4 Luật Doanh nghiệp hoặc có thỏa thuận cùng sở hữu trực tiếp, gián tiếp từ 25% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên phải được xem xét xác định là chủ sở hữu hưởng lợi.

Nhóm quan hệ gia đình bao gồm vợ, chồng, bố mẹ đẻ, bố mẹ nuôi, bố mẹ chồng, bố mẹ vợ, con đẻ, con nuôi, con rể, con dâu, anh chị em ruột và các nhóm quan hệ thân thích khác theo luật.

Quy định này giúp nhận diện trường hợp tỷ lệ vốn được phân chia cho nhiều người trong cùng gia đình nhưng tổng quyền sở hữu vẫn đạt mức đáng kể.

Người có khả năng kiểm soát doanh nghiệp trên thực tế

Nếu không có cá nhân đạt ngưỡng 25%, hoặc người đứng tên phần vốn không phải là người thực sự hưởng lợi, doanh nghiệp phải tiếp tục xác định cá nhân có quyền kiểm soát thực tế theo khoản 2 Điều 17.

Quyền kiểm soát có thể thể hiện thông qua quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm phần lớn hoặc toàn bộ thành viên Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.

Các quyền liên quan đến sửa đổi điều lệ, thay đổi cơ cấu tổ chức, quyết định chính sách tài chính, đầu tư hoặc hoạt động kinh doanh cũng có thể được xem xét.

Ví dụ, một nhà đầu tư tư nhân chỉ sở hữu dưới 25% vốn nhưng theo thỏa thuận đầu tư có quyền phủ quyết đối với ngân sách, kế hoạch kinh doanh hoặc quyền tham gia bổ nhiệm Tổng giám đốc. Khi đó, tỷ lệ sở hữu thấp không đồng nghĩa với việc cá nhân này đương nhiên nằm ngoài phạm vi xác định chủ sở hữu hưởng lợi.

doanh-nghiep-co-von-nha-nuoc-van-phai-thuc-hien-ke-khai-day-du

Doanh nghiệp có vốn nhà nước vẫn phải thực hiện kê khai đầy đủ.

Trình tự rà soát chủ sở hữu hưởng lợi tại doanh nghiệp có vốn nhà nước

Điều 18 Nghị định 168/2025/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Điều 4 Nghị định 296/2026/NĐ-CP, quy định trình tự xác định chủ sở hữu hưởng lợi tương ứng với ba nhóm tiêu chí tại Điều 17.

Doanh nghiệp cần thực hiện lần lượt từng bước, đồng thời bảo đảm người đại diện vốn nhà nước được loại trừ đúng theo quy định.

Giai đoạn 1: Kiểm tra tỷ lệ sở hữu 25%

Trước tiên, doanh nghiệp xác định cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu từ 25% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên.

Điểm a khoản 2 Điều 18 là cơ sở thực hiện bước này.

Khi rà soát, doanh nghiệp cần kiểm tra đồng thời:

  • Phần sở hữu trực tiếp;

  • Phần sở hữu gián tiếp qua tổ chức;

  • Quyền sở hữu của nhóm cá nhân có quan hệ gia đình;

  • Quyền sở hữu chung theo hợp đồng hoặc thỏa thuận.

Người đại diện vốn Nhà nước được loại trừ trong phạm vi phần vốn Nhà nước mà họ đại diện. Các cổ đông tư nhân vẫn phải được rà soát độc lập.

Giai đoạn 2: Kiểm tra quyền kiểm soát thực tế

Nếu không có cá nhân đáp ứng điều kiện về tỷ lệ sở hữu hoặc có căn cứ cho thấy người đạt tỷ lệ sở hữu không phải người hưởng lợi thực tế, doanh nghiệp chuyển sang bước xác định người kiểm soát thực tế.

Theo điểm b khoản 2 Điều 18, doanh nghiệp xác định một hoặc nhiều cá nhân đáp ứng tiêu chí kiểm soát thực tế tại khoản 2 Điều 17.

Trong bước này cần phân biệt quyền kiểm soát phát sinh từ tư cách sở hữu, thỏa thuận tư nhân với quyền mà cá nhân thực hiện đơn thuần do được giao đại diện vốn Nhà nước.

Quyền biểu quyết thực hiện theo sự ủy quyền của cơ quan đại diện chủ sở hữu Nhà nước không làm phát sinh tư cách chủ sở hữu hưởng lợi cho người đại diện.

Giai đoạn 3: Xác định người quản lý có quyền hạn lớn nhất

Nếu cả hai tiêu chí về sở hữu và kiểm soát đều không xác định được cá nhân phù hợp, doanh nghiệp áp dụng phương án dự phòng.

Theo điểm c khoản 2 Điều 18, cá nhân được xác định là người quản lý doanh nghiệp có quyền hạn lớn nhất để hành động thay mặt doanh nghiệp.

Tuy nhiên, khoản 3 Điều 17 vẫn yêu cầu loại trừ cá nhân đại diện vốn nhà nước.

Do đó, kể cả khi người đại diện vốn nhà nước đang giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Tổng giám đốc, cá nhân đó vẫn không được lựa chọn làm chủ sở hữu hưởng lợi theo bước dự phòng.

Rủi ro khi xác định và kê khai sai thông tin

Doanh nghiệp cần đặc biệt chú ý đến tính chính xác của thông tin chủ sở hữu hưởng lợi bởi việc kê khai sai có thể dẫn đến các mức xử phạt theo quy định.

Kê khai người đại diện vốn nhà nước không đúng đối tượng

Sai sót thường xuất phát từ việc doanh nghiệp chỉ căn cứ vào chức vụ quản lý cao nhất mà bỏ qua quy định loại trừ đối với người đại diện vốn Nhà nước.

Theo Điều 43 Nghị định 122/2021/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 288/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 21/7/2026, tổ chức có hành vi kê khai không chính xác thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp có thể bị phạt từ 30.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng.

Đối với cá nhân, mức phạt bằng một phần hai mức phạt áp dụng đối với tổ chức.

Bỏ sót cá nhân thuộc khu vực tư nhân

Một doanh nghiệp có vốn Nhà nước vẫn có thể có cổ đông tư nhân thuộc diện phải kê khai. Nếu doanh nghiệp cho rằng chỉ cần xác định phần vốn Nhà nước thì có thể bỏ qua nghĩa vụ này.

Theo điểm c khoản 4 Điều 46 Nghị định 122/2021/NĐ-CP, được bổ sung bởi Nghị định 288/2026/NĐ-CP, hành vi không kê khai thông tin chủ sở hữu hưởng lợi tại thời điểm đăng ký thành lập có thể bị phạt từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với tổ chức.

Doanh nghiệp đồng thời phải thực hiện việc bổ sung thông tin theo quy định.

Không điều chỉnh thông tin sau khi cơ cấu sở hữu thay đổi

Thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi cần được rà soát trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp.

Khi có chuyển nhượng cổ phần tư nhân, tăng giảm vốn hoặc thay đổi thỏa thuận giữa các cổ đông làm phát sinh sự thay đổi về quyền sở hữu, quyền kiểm soát, doanh nghiệp cần đánh giá lại thông tin đã kê khai.

Đối với doanh nghiệp thành lập trước ngày 01/7/2025, việc không bổ sung thông tin chủ sở hữu hưởng lợi khi thực hiện lần đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp gần nhất có thể bị phạt từ 70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng theo khoản 6 Điều 44 Nghị định 122/2021/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Nghị định 288/2026/NĐ-CP.

Trường hợp không báo cáo trung thực thông tin chủ sở hữu hưởng lợi khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu cũng có thể bị xử lý theo Điều 48 Nghị định này.

Dịch vụ luật sư hỗ trợ xác định chủ sở hữu hưởng lợi tại Tư vấn Long Phan

Cơ cấu sở hữu có vốn Nhà nước thường phát sinh nhiều vấn đề cần phân biệt giữa phần vốn được loại trừ và phần vốn tư nhân vẫn thuộc diện kê khai. Đặc biệt, doanh nghiệp có nhiều tầng sở hữu hoặc nhóm cổ đông có quan hệ gia đình cần rà soát kỹ trước khi xác định thông tin.

Tư vấn Long Phan hỗ trợ:

  • Rà soát cơ cấu vốn, xác định phần vốn Nhà nước được loại trừ và phần vốn tư nhân phải xem xét kê khai.

  • Xác định cá nhân đáp ứng tiêu chí sở hữu 25% hoặc quyền kiểm soát thực tế theo Điều 17, Điều 18 Nghị định 168/2025/NĐ-CP.

  • Kiểm tra việc loại trừ người đại diện vốn Nhà nước trong cả ba bước xác định chủ sở hữu hưởng lợi.

  • Soạn thảo hồ sơ kê khai và thông báo thông tin chủ sở hữu hưởng lợi với Cơ quan đăng ký kinh doanh.

  • Rà soát và cập nhật thông tin khi cơ cấu sở hữu hoặc quyền kiểm soát của doanh nghiệp có thay đổi.

  • Kiểm tra hồ sơ đã kê khai để xác định nội dung chưa phù hợp và phương án khắc phục theo quy định.

Tóm tắt nội dung chính.

Người đại diện phần vốn Nhà nước không được xác định là chủ sở hữu hưởng lợi đối với phần vốn mà cá nhân được giao đại diện. Nội dung loại trừ được ghi nhận tại khoản 35 Điều 4 Luật Doanh nghiệp và được cụ thể hóa tại Điều 17, Điều 18 Nghị định 168/2025/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Nghị định 296/2026/NĐ-CP. Tuy nhiên, phạm vi loại trừ chỉ gắn với tư cách đại diện vốn Nhà nước. Nếu cá nhân đồng thời sở hữu phần vốn riêng hoặc có quyền kiểm soát doanh nghiệp bằng một tư cách khác thì những quyền này vẫn phải được xem xét. Doanh nghiệp có vốn Nhà nước vẫn cần rà soát lần lượt tiêu chí sở hữu, kiểm soát thực tế và phương án xác định người quản lý để thực hiện kê khai đúng quy định.

Tư vấn Long Phan cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900 63 63 89 để được tư vấn miễn phí.

Nguồn: Người Đại Diện Vốn Nhà Nước Có Là Chủ Sở Hữu Hưởng Lợi?

>>>Xem thêm:


Nhận xét

Bài Đăng Phổ Biến

HƯỚNG DẪN CHỨNG NHẬN HỢP QUY SẢN PHẨM THEO QUY ĐỊNH MỚI

QUY ĐỊNH VỀ GIẤY CHỨNG NHẬN HUẤN LUYỆN AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG

Hướng Dẫn Đăng Ký Lớp Dạy Thêm Tại Nhà Đúng Quy Định 2026

Doanh nghiệp cần làm gì khi chứng chỉ năng lực xây dựng bị bãi bỏ

Cấp lại giấy chứng nhận an toàn thực phẩm trước thời hạn cần lưu ý gì?

Hướng dẫn điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án cải tạo nhà chung cư

HƯỚNG DẪN CHẤM DỨT HOẠT ĐỘNG CHI NHÁNH CÔNG TY TNHH ĐÚNG QUY ĐỊNH