Doanh nghiệp cần làm gì khi chứng chỉ năng lực xây dựng bị bãi bỏ
Việc chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức được bãi bỏ từ ngày 01/7/2025 đã tạo ra thay đổi đáng kể trong cách doanh nghiệp chứng minh năng lực khi tham gia hoạt động xây dựng. Thay vì thực hiện thủ tục xin cấp chứng chỉ như trước, doanh nghiệp chuyển sang cơ chế tự công khai thông tin năng lực và chịu trách nhiệm về nội dung đã công bố. Do đó, doanh nghiệp xây dựng, tư vấn thiết kế và thi công cần chủ động cập nhật hồ sơ, nhân sự và thông tin năng lực để đáp ứng yêu cầu của từng dự án, gói thầu.
Bãi bỏ chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng.
Doanh nghiệp chuyển sang cơ chế tự công khai năng lực sau khi bỏ chứng chỉ
Chứng chỉ năng lực của tổ chức không còn được sử dụng theo cơ chế quản lý trước đây. Thay vào đó, doanh nghiệp phải chủ động cung cấp và công khai những thông tin phản ánh năng lực thực tế của mình.
Những điểm doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý
Thứ nhất, chứng chỉ năng lực tổ chức đã được bãi bỏ. Kể từ ngày 01/7/2025, chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức không còn được cấp mới hoặc cấp lại dưới bất kỳ hình thức nào.
Thứ hai, doanh nghiệp tự công bố thông tin về năng lực. Tổ chức tham gia hoạt động xây dựng có trách nhiệm công khai thông tin năng lực và bảo đảm những nội dung được công bố là chính xác, phù hợp với năng lực thực tế.
Thứ ba, chứng chỉ hành nghề của cá nhân vẫn được duy trì. Việc bỏ chứng chỉ năng lực của tổ chức không làm mất đi yêu cầu về chứng chỉ hành nghề đối với những cá nhân giữ chức danh chuyên môn thuộc trường hợp pháp luật quy định.
Thứ tư, thông tin năng lực không chính xác có thể phát sinh rủi ro pháp lý. Doanh nghiệp kê khai không đúng thực tế hoặc lựa chọn tổ chức, cá nhân không đáp ứng điều kiện năng lực có thể phải đối mặt với các chế tài xử phạt theo quy định hiện hành.
Từ thời điểm nào tổ chức không còn phải có chứng chỉ năng lực?
Kể từ 01/7/2025, tổ chức tham gia hoạt động xây dựng không còn thuộc trường hợp bắt buộc phải có chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng. Căn cứ được bài nguồn xác định là điểm g khoản 1 Điều 56 và khoản 2 Điều 58 Luật Đường sắt 2025. Đồng thời, Bộ Xây dựng đã có hướng dẫn về việc dừng cơ chế cấp chứng chỉ năng lực của tổ chức từ thời điểm này.
Những lĩnh vực xây dựng không còn yêu cầu chứng chỉ năng lực tổ chức
Trước ngày 01/7/2025, chứng chỉ năng lực từng được áp dụng đối với một số hoạt động như khảo sát xây dựng, thiết kế, thẩm tra thiết kế, quản lý dự án, thi công và giám sát xây dựng theo Luật Xây dựng và Nghị định 175/2024/NĐ-CP.
Tuy nhiên, ngay trong giai đoạn trước đây, pháp luật cũng quy định một số trường hợp ngoại lệ không bắt buộc phải có chứng chỉ. Vì vậy, không phải mọi hoạt động xây dựng đều thuộc diện phải có chứng chỉ năng lực.
Từ ngày 01/7/2025, việc loại bỏ chứng chỉ năng lực tổ chức chỉ thay đổi phương thức quản lý, không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp được miễn các yêu cầu về năng lực thực tế. Tổ chức vẫn phải bảo đảm nhân sự, kinh nghiệm và điều kiện chuyên môn phù hợp với công việc, dự án hoặc yêu cầu trong hồ sơ lựa chọn nhà thầu.
Quy định về năng lực xây dựng từ ngày 01/7/2026
Từ ngày 01/7/2026, Luật Xây dựng 2025 trở thành căn cứ pháp lý chính điều chỉnh vấn đề năng lực trong hoạt động xây dựng. Theo khoản 6 Điều 88 Luật Xây dựng 2025, tổ chức tham gia hoạt động xây dựng phải tự công khai thông tin năng lực trên trang thông tin điện tử của Bộ Xây dựng.
Thông tin này được sử dụng để chủ đầu tư tham khảo trong quá trình lựa chọn nhà thầu. Như vậy, doanh nghiệp không còn phải thực hiện thủ tục xin cấp chứng chỉ năng lực tổ chức như trước.
Có thể phân chia quá trình chuyển đổi thành hai giai đoạn:
Từ 01/7/2025 đến 30/6/2026: chứng chỉ năng lực tổ chức được bãi bỏ theo điểm g khoản 1 Điều 56 và khoản 2 Điều 58 Luật Đường sắt 2025.
Từ 01/7/2026 trở đi: áp dụng cơ chế doanh nghiệp tự công khai thông tin năng lực theo khoản 6 Điều 88 Luật Xây dựng 2025.
Chứng chỉ năng lực đã được cấp trước ngày 01/7/2025 có còn giá trị?
Những chứng chỉ năng lực tổ chức đã được cấp trước ngày 01/7/2025 không còn là điều kiện pháp lý bắt buộc để doanh nghiệp tham gia hoạt động xây dựng theo cơ chế hiện hành.
Doanh nghiệp vẫn có thể lưu giữ chứng chỉ cũ trong hồ sơ để thể hiện quá trình hoạt động hoặc năng lực đã từng được xác nhận. Tuy nhiên, đối với các dự án mới, doanh nghiệp không cần xem chứng chỉ này như một điều kiện bắt buộc để được tham gia.
Mặt khác, việc không còn yêu cầu chứng chỉ không có nghĩa doanh nghiệp mặc nhiên đáp ứng mọi điều kiện năng lực. Tổ chức vẫn phải chứng minh khả năng thực tế phù hợp với công việc và yêu cầu cụ thể của từng dự án. Từ ngày 01/7/2026, việc quản lý thông tin năng lực được thực hiện theo Luật Xây dựng 2025 và Nghị định 212/2026/NĐ-CP.
Cơ chế quản lý năng lực xây dựng hiện nay thay đổi ra sao?
Từ ngày 01/7/2026, năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức được quản lý theo Luật Xây dựng 2025 và Nghị định 212/2026/NĐ-CP. Thay vì xin chứng chỉ, doanh nghiệp có trách nhiệm tự công khai thông tin năng lực trên trang thông tin điện tử của Bộ Xây dựng.
Đây là cơ sở để chủ đầu tư xem xét, đánh giá khi lựa chọn tổ chức tham gia dự án hoặc gói thầu. Vì vậy, doanh nghiệp cần chú trọng đến việc xây dựng hồ sơ năng lực phản ánh đúng khả năng thực tế thay vì tập trung vào việc duy trì chứng chỉ năng lực tổ chức như trước.
Doanh nghiệp nên chuẩn bị những tài liệu gì để chứng minh năng lực?
Sau khi chứng chỉ năng lực tổ chức không còn được yêu cầu, doanh nghiệp nên chủ động xây dựng và cập nhật hồ sơ chứng minh năng lực phù hợp với từng công việc, dự án hoặc gói thầu. Các tài liệu có thể bao gồm:
Thông tin pháp lý của doanh nghiệp;
Thông tin năng lực đã được công khai theo khoản 6 Điều 88 Luật Xây dựng 2025;
Hợp đồng đã thực hiện, danh mục công trình và tài liệu nghiệm thu để chứng minh kinh nghiệm;
Danh sách nhân sự chuyên môn cùng chứng chỉ hành nghề đối với các chức danh thuộc diện bắt buộc;
Thông tin về máy móc, thiết bị, nguồn lực kỹ thuật và năng lực tài chính nếu dự án hoặc hồ sơ mời thầu yêu cầu.
Cần lưu ý, đây không phải một bộ “hồ sơ thay thế chứng chỉ năng lực” được pháp luật quy định với thành phần cố định. Chủ đầu tư có trách nhiệm lựa chọn tổ chức, cá nhân phù hợp theo khoản 5 Điều 88 Luật Xây dựng 2025; còn yêu cầu cụ thể về kinh nghiệm, nhân sự và nguồn lực sẽ phụ thuộc vào từng dự án hoặc gói thầu.
Chứng chỉ hành nghề của cá nhân vẫn được duy trì.
Trách nhiệm hậu kiểm và những rủi ro doanh nghiệp cần lưu ý
Việc bỏ chứng chỉ năng lực không làm mất đi trách nhiệm bảo đảm năng lực của các chủ thể tham gia xây dựng. Theo khoản 5 Điều 88 Luật Xây dựng 2025, chủ đầu tư chịu trách nhiệm về việc lựa chọn tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng. Đồng thời, doanh nghiệp phải bảo đảm thông tin năng lực được công khai phù hợp với thực tế.
Theo khoản 1 Điều 7 Nghị định 16/2022/NĐ-CP, hành vi lựa chọn tổ chức, cá nhân không đáp ứng điều kiện năng lực đối với các hoạt động xây dựng thuộc phạm vi điều chỉnh có thể bị phạt từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng. Khoản 4 Điều 7 cũng quy định các biện pháp khắc phục tương ứng.
Đối với nhà thầu, Điều 24 Nghị định 16/2022/NĐ-CP quy định chế tài đối với một số hành vi hoạt động không đáp ứng điều kiện năng lực hoặc bố trí cá nhân không đủ điều kiện đảm nhận chức danh theo quy định.
Tuy nhiên, doanh nghiệp không thể bị xử phạt chỉ vì không có chứng chỉ năng lực tổ chức, bởi loại chứng chỉ này đã được pháp luật hiện hành bãi bỏ.
Do đó, trọng tâm doanh nghiệp cần hướng tới hiện nay là năng lực thực tế, đội ngũ nhân sự đủ điều kiện và tính trung thực, chính xác của thông tin được công khai.
Doanh nghiệp xây dựng cần thực hiện những gì sau khi bỏ chứng chỉ năng lực?
Sau khi cơ chế chứng chỉ năng lực tổ chức được bãi bỏ, doanh nghiệp cần chủ động điều chỉnh phương thức chuẩn bị hồ sơ và quản lý năng lực. Một số công việc cần thực hiện gồm:
Rà soát, chuẩn hóa hồ sơ năng lực của doanh nghiệp;
Cập nhật thông tin về nhân sự chuyên môn;
Kiểm tra tình trạng chứng chỉ hành nghề của những nhân sự thuộc trường hợp bắt buộc;
Thực hiện công khai thông tin năng lực theo quy định;
Rà soát hồ sơ dự thầu để bảo đảm thông tin về năng lực phù hợp với yêu cầu của từng gói thầu.
Chứng chỉ hành nghề của cá nhân có bị bãi bỏ theo không?
Chứng chỉ năng lực của tổ chức và chứng chỉ hành nghề của cá nhân là hai loại giấy tờ có bản chất khác nhau. Việc bỏ chứng chỉ năng lực tổ chức không đồng nghĩa với việc loại bỏ chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng của cá nhân.
Từ ngày 01/7/2026, pháp luật xây dựng vẫn duy trì chứng chỉ hành nghề đối với các cá nhân thuộc nhóm chức danh phải đáp ứng điều kiện chuyên môn. Chứng chỉ hành nghề được cấp cho cá nhân có trình độ, kinh nghiệm phù hợp để đảm nhận các công việc hoặc chức danh theo quy định.
Những vị trí nào phải có chứng chỉ hành nghề?
Theo khoản 1 Điều 88 Luật Xây dựng 2025, các chức danh thuộc trường hợp phải có chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng tương ứng gồm:
Chủ nhiệm, chủ trì lập thiết kế quy hoạch đô thị và nông thôn;
Chủ nhiệm khảo sát xây dựng;
Chủ nhiệm, chủ trì thiết kế xây dựng;
Chủ nhiệm, chủ trì thẩm tra thiết kế xây dựng;
Giám sát thi công xây dựng;
Chủ trì xác định, thẩm tra và quản lý chi phí đầu tư xây dựng.
Khi áp dụng các quy định từ ngày 01/7/2026, doanh nghiệp và cá nhân cần đối chiếu đồng thời với Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP và Nghị định 212/2026/NĐ-CP về việc cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh. Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
Theo khoản 1 Điều 28 Nghị định 212/2026/NĐ-CP, các lĩnh vực cấp chứng chỉ hành nghề hiện gồm bốn nhóm chính:
Khảo sát xây dựng, bao gồm khảo sát địa hình và khảo sát địa chất công trình;
Lập quy hoạch đô thị và nông thôn;
Thiết kế xây dựng, gồm thiết kế kiến trúc theo pháp luật về kiến trúc, thiết kế xây dựng công trình và thiết kế cơ – điện công trình;
Giám sát thi công xây dựng, bao gồm giám sát công tác xây dựng công trình và giám sát công tác lắp đặt thiết bị công trình.
Ngoài các chức danh trên, khoản 2 Điều 88 Luật Xây dựng 2025 quy định chỉ huy trưởng công trường, chủ trì kiểm định xây dựng và giám đốc quản lý dự án đầu tư xây dựng phải đáp ứng điều kiện về năng lực và kinh nghiệm nghề nghiệp. Các chức danh này không được xếp vào nhóm bắt buộc phải có chứng chỉ hành nghề theo khoản 1 Điều 88.
Điều kiện và thủ tục cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng
Điều 89 Luật Xây dựng 2025 quy định cá nhân đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng phải đáp ứng hai nhóm điều kiện cơ bản:
Có trình độ chuyên môn phù hợp với lĩnh vực đề nghị cấp chứng chỉ;
Có thời gian và kinh nghiệm tham gia công việc tương ứng với nội dung xin cấp chứng chỉ.
Điều kiện cụ thể được quy định tại Điều 33 Nghị định 212/2026/NĐ-CP. Ngoài các yêu cầu về năng lực hành vi và điều kiện cư trú, lao động trong trường hợp có yếu tố nước ngoài, người đề nghị còn phải đáp ứng yêu cầu về chuyên môn và kinh nghiệm tương ứng với từng hạng chứng chỉ.
Cụ thể:
Hạng I: trình độ đại học phù hợp và tối thiểu 07 năm kinh nghiệm;
Hạng II: trình độ đại học phù hợp và tối thiểu 04 năm kinh nghiệm;
Hạng III: tối thiểu 02 năm kinh nghiệm đối với người có trình độ đại học hoặc 03 năm đối với người có trình độ cao đẳng, cùng các yêu cầu chuyên môn tương ứng.
Ngoài điều kiện chung, từng lĩnh vực và hạng chứng chỉ còn có yêu cầu riêng về kinh nghiệm nghề nghiệp. Chẳng hạn, Điều 34 Nghị định 212/2026/NĐ-CP quy định điều kiện kinh nghiệm đối với chứng chỉ hành nghề khảo sát xây dựng; các điều khoản tiếp theo quy định tương ứng đối với lĩnh vực quy hoạch, thiết kế và giám sát.
Hồ sơ và thời gian giải quyết cấp chứng chỉ
Theo Điều 30 Nghị định 212/2026/NĐ-CP, cá nhân chuẩn bị 01 bộ hồ sơ theo Điều 39 và gửi đến cơ quan có thẩm quyền bằng một trong các phương thức:
Nộp trực tiếp tại Bộ phận Một cửa;
Gửi qua dịch vụ bưu chính;
Nộp trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Thời hạn giải quyết được quy định tại khoản 2 Điều 30 Nghị định 212/2026/NĐ-CP, gồm:
06 ngày làm việc đối với trường hợp cấp mới thuộc trường hợp luật định, tính từ ngày có thông báo kết quả đánh giá hồ sơ đủ điều kiện;
05 ngày làm việc đối với trường hợp cấp lại;
11 ngày làm việc đối với trường hợp cấp chuyển đổi thuộc trường hợp luật định, tính từ ngày có thông báo kết quả đánh giá hồ sơ đủ điều kiện.
Doanh nghiệp thành lập sau ngày 01/7/2025 có được hoạt động xây dựng không?
Có. Việc doanh nghiệp được thành lập sau ngày 01/7/2025 không làm mất quyền tham gia hoạt động xây dựng. Doanh nghiệp chỉ cần đáp ứng các điều kiện tương ứng với công việc hoặc dự án mà mình thực hiện.
Từ ngày 01/7/2025, tổ chức không còn bị yêu cầu phải sở hữu chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng. Bộ Xây dựng cũng xác nhận doanh nghiệp mới không bị loại khỏi hoạt động xây dựng chỉ vì chưa từng được cấp loại chứng chỉ này.
Từ ngày 01/7/2026, việc quản lý năng lực tiếp tục được thực hiện theo Luật Xây dựng 2025 và Nghị định 212/2026/NĐ-CP.
Điều kiện để doanh nghiệp mới tham gia đấu thầu và ký hợp đồng
Theo khoản 5 Điều 88 Luật Xây dựng 2025, chủ đầu tư chịu trách nhiệm trong việc lựa chọn tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng. Đồng thời, khoản 6 Điều 88 yêu cầu tổ chức tham gia hoạt động xây dựng tự công khai thông tin năng lực trên trang thông tin điện tử của Bộ Xây dựng.
Doanh nghiệp mới cần tập trung chứng minh các yếu tố sau:
Nhân sự đáp ứng yêu cầu năng lực; những cá nhân thuộc khoản 1 Điều 88 Luật Xây dựng 2025 phải có chứng chỉ hành nghề phù hợp;
Kinh nghiệm, thiết bị và nguồn lực đáp ứng yêu cầu của công việc hoặc gói thầu;
Năng lực tài chính trong trường hợp hồ sơ lựa chọn nhà thầu có yêu cầu;
Thông tin năng lực được công khai theo khoản 6 Điều 88 Luật Xây dựng 2025.
Đối với các dự án sử dụng vốn nhà nước, việc không còn yêu cầu chứng chỉ năng lực tổ chức không có nghĩa doanh nghiệp đương nhiên đủ điều kiện trúng thầu. Doanh nghiệp vẫn phải đáp ứng đầy đủ tiêu chí được quy định trong hồ sơ mời thầu và pháp luật về đấu thầu áp dụng cho từng gói thầu.
Rủi ro khi doanh nghiệp công khai thông tin năng lực sai thực tế
Cơ chế tự công khai thông tin giúp thay đổi cách quản lý năng lực của tổ chức, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn về tính chính xác của thông tin doanh nghiệp cung cấp.
Theo khoản 6 Điều 88 Luật Xây dựng 2025, tổ chức tham gia hoạt động xây dựng phải tự công khai thông tin năng lực. Khoản 7 Điều 88 giao Chính phủ quy định chi tiết về nội dung công khai và việc quản lý thông tin trên Hệ thống thông tin, Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng.
Bên cạnh đó, Điều 7 và Điều 24 Nghị định 16/2022/NĐ-CP vẫn quy định các chế tài đối với hành vi lựa chọn tổ chức, cá nhân không đáp ứng điều kiện năng lực hoặc thực hiện hoạt động xây dựng khi chưa đáp ứng điều kiện theo quy định.
Tuy nhiên, những quy định trước đây gắn trực tiếp với hành vi tổ chức không có chứng chỉ năng lực cần được áp dụng phù hợp với Luật Xây dựng 2025, bởi chứng chỉ năng lực của tổ chức hiện không còn là điều kiện bắt buộc.
Vì vậy, doanh nghiệp mới cũng như doanh nghiệp đang hoạt động cần ưu tiên xây dựng năng lực thực tế, duy trì đội ngũ nhân sự đáp ứng điều kiện, tích lũy kinh nghiệm và bảo đảm thông tin công khai phản ánh đúng khả năng của mình.
Cơ chế tự công khai năng lực thay thế chứng chỉ của tổ chức
Theo cơ chế mới, doanh nghiệp tự công khai thông tin về năng lực thay vì thực hiện thủ tục xin cấp chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng. Việc công khai không chỉ nhằm cung cấp thông tin cho chủ đầu tư mà còn gắn với trách nhiệm của doanh nghiệp về tính chính xác của những nội dung đã công bố.
Do đó, doanh nghiệp cần thường xuyên rà soát thông tin năng lực, nhân sự, kinh nghiệm và các nguồn lực liên quan để bảo đảm nội dung công khai phù hợp với thực tế.
Dịch vụ luật sư hỗ trợ doanh nghiệp sau khi bỏ chứng chỉ năng lực
Tư vấn Long Phan hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng, tư vấn thiết kế và thi công cập nhật, thích ứng với những thay đổi của pháp luật sau khi chứng chỉ năng lực tổ chức được bãi bỏ, bao gồm:
Rà soát hồ sơ năng lực nội bộ và tư vấn phương án chuẩn hóa hồ sơ dự thầu theo quy định mới;
Tư vấn điều kiện, hồ sơ và trình tự đề nghị cấp, cấp lại, cấp chuyển đổi chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng cho nhân sự chủ chốt;
Rà soát, cập nhật điều khoản hợp đồng thi công, hồ sơ mời thầu và hồ sơ dự thầu trên cơ sở quy định pháp luật hiện hành;
Tư vấn phương án xử lý khi doanh nghiệp phát sinh tình huống bị cơ quan chuyên môn về xây dựng kiểm tra, hậu kiểm về điều kiện năng lực;
Đại diện khách hàng làm việc với Sở Xây dựng và cơ quan chuyên môn về xây dựng trong quá trình thực hiện các thủ tục liên quan.
Quý doanh nghiệp có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc có thể gửi hồ sơ qua email info@longphanpmt.com hoặc Zalo 0906.735.386.
Những câu hỏi thường gặp về chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng
Việc chuyển từ cơ chế cấp chứng chỉ sang tự công khai năng lực khiến nhiều doanh nghiệp vẫn còn băn khoăn về điều kiện tham gia hoạt động xây dựng, giá trị của chứng chỉ cũ và cách chứng minh năng lực khi tham gia dự án. Một số câu hỏi thường gặp dưới đây giúp doanh nghiệp có thêm thông tin tham khảo khi áp dụng quy định mới.
1. Chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng hiện còn được cấp không?
Không. Chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức đã được bãi bỏ từ ngày 01/7/2025 theo điểm g khoản 1 Điều 56 Luật Đường sắt 2025. Theo đó, cơ quan có thẩm quyền đã dừng việc tiếp nhận hồ sơ cấp mới và cấp lại loại chứng chỉ này kể từ thời điểm nêu trên.
2. Chứng chỉ năng lực được cấp trước ngày 01/7/2025 có bị thu hồi không?
Chứng chỉ năng lực đã được cấp trước ngày 01/7/2025 không còn được xem là điều kiện pháp lý bắt buộc đối với tổ chức tham gia hoạt động xây dựng theo cơ chế hiện hành. Doanh nghiệp có thể lưu giữ chứng chỉ để làm tài liệu tham khảo hoặc chứng minh quá trình hoạt động, nhưng không cần sử dụng chứng chỉ này như điều kiện bắt buộc đối với dự án mới.
3. Chứng chỉ hành nghề khác chứng chỉ năng lực như thế nào?
Chứng chỉ năng lực trước đây được cấp cho tổ chức nhằm xác nhận năng lực hoạt động xây dựng của doanh nghiệp. Trong khi đó, chứng chỉ hành nghề được cấp cho cá nhân đáp ứng điều kiện về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm và các yêu cầu tương ứng với lĩnh vực hành nghề.
Vì vậy, việc bãi bỏ chứng chỉ năng lực của tổ chức không đồng nghĩa với việc cá nhân thuộc trường hợp bắt buộc phải có chứng chỉ hành nghề được miễn yêu cầu này.
4. Doanh nghiệp không có chứng chỉ năng lực có được tham gia đấu thầu công trình sử dụng vốn nhà nước không?
Có thể. Doanh nghiệp không còn bị yêu cầu phải có chứng chỉ năng lực tổ chức chỉ để đáp ứng điều kiện tham gia hoạt động xây dựng. Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn phải đáp ứng các tiêu chí về năng lực, kinh nghiệm, nhân sự, thiết bị, tài chính và các yêu cầu khác được quy định trong hồ sơ mời thầu cũng như pháp luật về đấu thầu áp dụng cho gói thầu.
5. Cá nhân xin chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng cần đáp ứng điều kiện gì?
Cá nhân phải có trình độ chuyên môn phù hợp với lĩnh vực đề nghị cấp chứng chỉ và có thời gian, kinh nghiệm tham gia công việc tương ứng. Điều kiện cụ thể còn phụ thuộc vào lĩnh vực và hạng chứng chỉ mà cá nhân đề nghị cấp theo Luật Xây dựng 2025 và Nghị định 212/2026/NĐ-CP.
Tóm tắt nội dung chính
Chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức đã được bãi bỏ từ ngày 01/7/2025, chuyển sang cơ chế doanh nghiệp tự công khai thông tin năng lực và chịu trách nhiệm về tính chính xác của nội dung đã công bố. Từ ngày 01/7/2026, Luật Xây dựng 2025 và Nghị định 212/2026/NĐ-CP tiếp tục điều chỉnh cơ chế quản lý năng lực hoạt động xây dựng. Doanh nghiệp cần phân biệt rõ chứng chỉ năng lực của tổ chức với chứng chỉ hành nghề của cá nhân, đồng thời chú trọng năng lực thực tế, nhân sự, kinh nghiệm và yêu cầu riêng của từng dự án, gói thầu để hạn chế rủi ro pháp lý.
Tư vấn Long Phan cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900 63 63 89 để được tư vấn miễn phí.
Nguồn: Chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng bị bãi bỏ: Doanh nghiệp cần làm gì?
>>>Xem thêm:
- Thủ tục xin phép xây dựng nhà xưởng: Quy trình & hồ sơ
- HƯỚNG DẪN CHẤM DỨT HOẠT ĐỘNG CHI NHÁNH CÔNG TY TNHH ĐÚNG QUY ĐỊNH



Nhận xét
Đăng nhận xét