HƯỚNG DẪN THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP CUNG ỨNG NHÂN SỰ ĐÚNG QUY ĐỊNH
Lập công ty cung ứng lao động đòi hỏi nhà đầu tư phải xác định chính xác mô hình kinh doanh ngay từ đầu, bởi dịch vụ việc làm, cho thuê lại lao động và đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài chịu những cơ chế pháp lý khác nhau. Từ ngày 01/7/2026, hoạt động dịch vụ việc làm chuyển sang cơ chế thông báo thay cho giấy phép và ký quỹ, trong khi doanh nghiệp cho thuê lại lao động vẫn phải duy trì khoản ký quỹ 2 tỷ đồng cùng nhiều điều kiện vận hành. Việc phân định đúng chủ thể tuyển dụng, ký hợp đồng, trả lương và quản lý nhân sự sẽ giúp doanh nghiệp hạn chế rủi ro khi triển khai thực tế.
Lưu ý pháp lý cần quan tâm:
Từ ngày 01/7/2026, doanh nghiệp dịch vụ việc làm không còn phải xin giấy phép hoạt động và không phải tiếp tục duy trì khoản ký quỹ, nhưng phải thực hiện nghĩa vụ thông báo trước khi bắt đầu kinh doanh.
Doanh nghiệp dịch vụ việc làm phải gửi thông báo đến Sở Nội vụ chậm nhất 05 ngày làm việc trước thời điểm hoạt động và thực hiện công khai thông tin trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày bắt đầu hoạt động.
Hoạt động cho thuê lại lao động vẫn phải duy trì khoản ký quỹ 2 tỷ đồng và thời gian cho thuê lại đối với một người lao động không được vượt quá 12 tháng.
Trường hợp doanh nghiệp chậm thanh toán các quyền lợi của người lao động quá 60 ngày, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể quyết định sử dụng tiền từ tài khoản ký quỹ để giải quyết nghĩa vụ liên quan.
Xác định đúng loại hình kinh doanh trước khi thành lập công ty nhân sự
Một trong những vấn đề quan trọng nhất khi xây dựng doanh nghiệp cung ứng nhân lực là nhận diện đúng bản chất hoạt động. Việc gọi hợp đồng là “cung ứng nhân sự”, “cung cấp nhân lực” hay “hỗ trợ tuyển dụng” không quyết định mô hình pháp lý mà doanh nghiệp đang thực hiện.
Nhà đầu tư cần xác định rõ doanh nghiệp nào tuyển người, bên nào trực tiếp ký hợp đồng lao động, ai chịu trách nhiệm trả lương, đóng bảo hiểm xã hội và chủ thể nào điều hành công việc của người lao động hằng ngày. Phương thức doanh nghiệp tính phí theo kết quả tuyển dụng, theo số lượng người lao động hoặc theo ngày công cũng là căn cứ quan trọng để nhận diện mô hình.
Do đó, yếu tố cần xem xét là bản chất quan hệ giữa các bên chứ không chỉ dựa vào tên hợp đồng. Nếu công ty cung ứng trực tiếp ký hợp đồng lao động, trả lương nhưng sau đó đưa người lao động sang làm việc dưới sự điều hành của doanh nghiệp khách hàng thì hoạt động này có dấu hiệu của cho thuê lại lao động.
Nhận diện hoạt động dịch vụ việc làm
Dịch vụ việc làm về bản chất là hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng tìm kiếm, tư vấn, sàng lọc và giới thiệu người lao động phù hợp. Sau khi ứng viên được doanh nghiệp khách hàng tiếp nhận, công ty dịch vụ việc làm không trở thành người sử dụng lao động của ứng viên đó.
Người lao động sẽ trực tiếp giao kết hợp đồng lao động với doanh nghiệp khách hàng. Chính doanh nghiệp tiếp nhận phải thực hiện nghĩa vụ trả lương, đóng bảo hiểm xã hội và tổ chức quản lý, điều hành công việc hằng ngày.
Theo Khoản 1 Điều 27 Luật Việc làm 2025, phạm vi dịch vụ bao gồm tư vấn, giới thiệu việc làm, cung ứng và giới thiệu lao động; đồng thời có thể thực hiện việc thu thập, phân tích, lưu trữ thông tin về thị trường lao động.
Doanh nghiệp dịch vụ việc làm có thể xây dựng cơ chế thu phí theo từng ứng viên được tuyển, theo chiến dịch tuyển dụng hoặc căn cứ kết quả tuyển dụng. Tuy nhiên, hợp đồng dịch vụ cần thể hiện rõ công ty chỉ đảm nhiệm vai trò tìm kiếm, tuyển chọn và giới thiệu nhân sự, không trực tiếp quản lý, trả lương hay đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động sau khi được khách hàng tuyển dụng.
Đặc điểm pháp lý của doanh nghiệp cho thuê lại lao động
Cho thuê lại lao động là mô hình có bản chất hoàn toàn khác với hoạt động giới thiệu việc làm. Trong quan hệ này, doanh nghiệp cho thuê lại trực tiếp ký hợp đồng lao động với người lao động, trả lương và tiếp tục duy trì quan hệ lao động trong suốt quá trình nhân sự được bố trí làm việc tại một doanh nghiệp khác.
Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Lao động 2019 xác định người lao động vẫn duy trì quan hệ lao động với doanh nghiệp đã ký hợp đồng, mặc dù thực tế họ làm việc và chịu sự điều hành trực tiếp của doanh nghiệp thuê lại.
Do mô hình có sự tham gia của ba chủ thể, pháp luật đặt ra nhiều giới hạn nhằm bảo vệ quyền lợi người lao động:
Doanh nghiệp cho thuê lại vẫn là người sử dụng lao động, chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ về tiền lương và bảo hiểm xã hội.
Người lao động chỉ được bố trí thực hiện các công việc nằm trong danh mục công việc được phép cho thuê lại.
Khoản 1 Điều 53 Bộ luật Lao động 2019 quy định thời hạn cho thuê lại đối với một người lao động tối đa không quá 12 tháng.
Doanh nghiệp thuê lại không được tiếp tục chuyển người lao động đang thuê cho một bên thứ ba khác sử dụng.
Tiền lương của người lao động thuê lại không được thấp hơn tiền lương của người lao động của doanh nghiệp thuê lại có cùng trình độ và làm công việc tương đương.
Như vậy, doanh nghiệp không thể sử dụng tên gọi “hợp đồng cung ứng lao động” để loại bỏ các nghĩa vụ pháp lý nếu bản chất vận hành thực tế vẫn là cho thuê lại lao động.
Từ ngày 01/7/2026, dịch vụ việc làm chuyển sang cơ chế thông báo, không còn yêu cầu giấy phép hoạt động.
Tách biệt với hoạt động đưa người lao động Việt Nam ra nước ngoài
Hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thuộc một lĩnh vực kinh doanh chuyên biệt và không được đồng nhất với dịch vụ việc làm hoặc cho thuê lại lao động trong nước.
Đối với mô hình này, doanh nghiệp phải đáp ứng đồng thời nhiều điều kiện pháp lý, trong đó bao gồm:
Có vốn điều lệ tối thiểu 05 tỷ đồng.
Chủ sở hữu, thành viên hoặc cổ đông phải là nhà đầu tư trong nước theo điều kiện pháp luật áp dụng.
Thực hiện nghĩa vụ ký quỹ theo quy định chuyên ngành.
Người đại diện theo pháp luật phải có trình độ từ đại học trở lên và có ít nhất 05 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực liên quan.
Phải được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép chuyên ngành trước khi tổ chức đưa người lao động ra nước ngoài làm việc.
Những điều kiện này được quy định tại Điều 8, Điều 10 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 2020 và được hướng dẫn tại Điều 4, Điều 5, Điều 6 Nghị định 112/2021/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 01/01/2022.
Vì vậy, ngay khi xây dựng phương án kinh doanh, nhà đầu tư cần phân tách mô hình đưa người lao động ra nước ngoài khỏi hoạt động tuyển dụng hoặc cung ứng nhân lực trong nước. Việc sử dụng hợp đồng tuyển dụng hoặc hợp đồng cung ứng nhân sự để thực hiện thực tế hoạt động đưa lao động ra nước ngoài có thể làm phát sinh rủi ro đáng kể về điều kiện và giấy phép chuyên ngành.
Kiểm tra điều kiện pháp lý trước khi mở doanh nghiệp cung ứng nhân lực
Từ ngày 01/7/2026, cơ chế quản lý đối với lĩnh vực cung ứng nhân sự có những thay đổi quan trọng liên quan đến giấy phép, thông báo và nghĩa vụ ký quỹ. Việc áp dụng điều kiện nào phụ thuộc trực tiếp vào loại hình hoạt động mà doanh nghiệp thực hiện.
Nếu xác định sai mô hình, doanh nghiệp có thể duy trì một khoản ký quỹ không còn cần thiết hoặc ngược lại, triển khai hoạt động cho thuê lại lao động khi chưa đáp ứng đầy đủ điều kiện tài chính và điều kiện vận hành.
Quy định áp dụng đối với dịch vụ việc làm từ ngày 01/7/2026
Kể từ ngày 01/7/2026, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ việc làm không còn phải xin giấy phép hoạt động và cũng không phải tiếp tục duy trì khoản tiền ký quỹ theo cơ chế trước đây.
Thay vào đó, doanh nghiệp được quản lý theo cơ chế thành lập hợp pháp, thực hiện thông báo hoạt động và tuân thủ nghĩa vụ báo cáo, công khai thông tin theo quy định.
Đối với các trường hợp chuyển tiếp, doanh nghiệp cần lưu ý:
Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép dịch vụ việc làm đã nộp nhưng chưa được giải quyết trước ngày 01/7/2026 sẽ được dừng xử lý và hoàn trả theo Khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 66.18/2026/NQ-CP.
Giấy phép đã được cấp trước thời điểm trên tiếp tục được sử dụng đến khi hết thời hạn theo Khoản 3 Điều 6 Nghị quyết số 66.18/2026/NQ-CP.
Doanh nghiệp được rút toàn bộ khoản tiền ký quỹ mà không phải xin văn bản chấp thuận theo Khoản 2 Mục VI Phần D Phụ lục I.4 ban hành kèm theo Nghị quyết số 66.18/2026/NQ-CP.
Chậm nhất 05 ngày làm việc trước khi bắt đầu hoạt động, doanh nghiệp phải gửi thông báo đến Sở Nội vụ thông qua Sàn giao dịch việc làm quốc gia theo Mục V Phần D Phụ lục I.4 ban hành kèm theo Nghị quyết số 66.18/2026/NQ-CP.
Trong vòng 20 ngày làm việc kể từ ngày bắt đầu hoạt động, doanh nghiệp phải thực hiện công khai các thông tin trọng yếu liên quan đến hoạt động theo Mục V Phần D Phụ lục I.4 ban hành kèm theo Nghị quyết số 66.18/2026/NQ-CP.
Như vậy, việc bãi bỏ giấy phép không đồng nghĩa doanh nghiệp được tự do hoạt động mà không phải thực hiện nghĩa vụ quản lý chuyên ngành.
Khoản ký quỹ và các giới hạn đối với cho thuê lại lao động
Từ ngày 01/7/2026, doanh nghiệp cho thuê lại lao động không còn phải thực hiện thủ tục xin giấy phép mới, tuy nhiên vẫn chịu sự kiểm soát nghiêm ngặt đối với điều kiện tài chính và hoạt động thực tế.
Điều kiện tài chính quan trọng là doanh nghiệp phải duy trì khoản ký quỹ 2 tỷ đồng tại ngân hàng thương mại hoạt động hợp pháp tại Việt Nam. Mức ký quỹ này được xác định tại Khoản 1 Mục V Phần C Phụ lục I.4 ban hành kèm theo Nghị quyết số 66.18/2026/NQ-CP.
Ngoài điều kiện về tiền ký quỹ, doanh nghiệp còn phải tuân thủ các yêu cầu sau:
Chỉ được bố trí người lao động thực hiện công việc nằm trong danh mục được phép cho thuê lại.
Thực hiện thông báo hoạt động với Sở Nội vụ tại địa phương đặt trụ sở chính và nơi đặt chi nhánh.
Không cho thuê lại một người lao động quá 12 tháng theo Khoản 1 Điều 53 Bộ luật Lao động 2019.
Không chuyển người lao động đang được thuê lại cho bên thứ ba tiếp tục sử dụng.
Thực hiện nghĩa vụ trả lương không thấp hơn mức lương của người lao động nội bộ có cùng trình độ và thực hiện cùng công việc theo Khoản 4 Điều 56 Bộ luật Lao động 2019.
Khoản tiền ký quỹ không nên được nhìn nhận như một thủ tục hoàn thành một lần khi bắt đầu kinh doanh. Doanh nghiệp phải duy trì số dư theo yêu cầu trong suốt quá trình hoạt động. Nếu số dư bị giảm, sử dụng không đúng mục đích hoặc không được bổ sung kịp thời, khả năng vận hành hoạt động cho thuê lại lao động có thể bị ảnh hưởng.
Cho thuê lại lao động vẫn phải đáp ứng điều kiện ký quỹ và tuân thủ các quy định chuyên ngành về lao động
Xem xét mô hình công ty nhân sự trong tập đoàn và trường hợp có vốn nước ngoài
Một số tập đoàn thành lập một công ty chuyên phụ trách nhân sự rồi ký hợp đồng lao động với người lao động và bố trí những nhân sự này sang làm việc tại các pháp nhân khác trong cùng hệ thống.
Việc các doanh nghiệp cùng thuộc một tập đoàn không làm mất đi bản chất của hoạt động cho thuê lại lao động. Cơ quan có thẩm quyền vẫn có thể xem xét thực tế chủ thể nào ký hợp đồng lao động, đơn vị nào trả lương và ai trực tiếp quản lý, điều hành nhân sự tại nơi làm việc để xác định loại hình pháp lý.
Nếu doanh nghiệp có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài, cần tiếp tục thẩm định các vấn đề:
Điều kiện tiếp cận thị trường đối với từng loại dịch vụ nhân sự dự kiến kinh doanh.
Tỷ lệ sở hữu vốn và phương thức đầu tư.
Nghĩa vụ thực hiện thủ tục đầu tư trước khi đăng ký thành lập doanh nghiệp.
Phạm vi hoạt động được ghi nhận trong hồ sơ đăng ký đầu tư và đăng ký doanh nghiệp.
Quy định về thu thập, sử dụng, lưu trữ và chuyển dữ liệu ứng viên, đặc biệt trong trường hợp dữ liệu cá nhân được chuyển ra ngoài lãnh thổ Việt Nam.
Căn cứ pháp lý đầu vào không đủ để đưa ra một tỷ lệ sở hữu nước ngoài hoặc thời hạn xử lý hồ sơ đầu tư áp dụng chung cho mọi trường hợp. Do đó, từng dự án FDI phải được đánh giá riêng căn cứ quốc tịch nhà đầu tư, cam kết tiếp cận thị trường và phạm vi dịch vụ mà doanh nghiệp dự kiến triển khai.
Các bước đăng ký thành lập doanh nghiệp hoạt động cung ứng nhân sự
Sau khi xác định được mô hình kinh doanh, nhà đầu tư cần lựa chọn loại hình doanh nghiệp, xác định ngành nghề và chuẩn hóa bộ hồ sơ đăng ký.
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp chỉ xác lập tư cách pháp lý của công ty. Văn bản này không thay thế nghĩa vụ thông báo hoạt động, yêu cầu ký quỹ hoặc các điều kiện chuyên ngành khác nếu doanh nghiệp thuộc trường hợp phải áp dụng.
Chọn loại hình pháp nhân và đăng ký đúng mã ngành
Việc lựa chọn loại hình công ty cần căn cứ vào số lượng nhà đầu tư, nhu cầu huy động vốn, cơ chế quản trị và kế hoạch phát triển trong tương lai.
Những phương án thường được lựa chọn gồm:
Công ty TNHH một thành viên: phù hợp khi doanh nghiệp có duy nhất một chủ sở hữu và mong muốn cơ chế quản trị, ra quyết định tập trung.
Công ty TNHH hai thành viên trở lên: phù hợp với nhóm nhà đầu tư có số lượng giới hạn và cần kiểm soát việc chuyển nhượng phần vốn góp.
Công ty cổ phần: phù hợp với kế hoạch mở rộng quy mô, huy động thêm vốn, thành lập nhiều chi nhánh hoặc phát triển các nền tảng tuyển dụng quy mô lớn.
Bên cạnh loại hình pháp nhân, ngành nghề đăng ký cũng phải phản ánh đúng hoạt động thực tế của doanh nghiệp. Các mã ngành cần lưu ý gồm:
Mã ngành 7810: Hoạt động của các trung tâm, đại lý tư vấn, giới thiệu và môi giới việc làm.
Mã ngành 7822: Cung ứng lao động tạm thời và nguồn nhân lực khác.
Các mã ngành trên được xác định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Quyết định số 36/2025/QĐ-TTg.
Nếu doanh nghiệp dự kiến xây dựng nền tảng tuyển dụng trực tuyến, ngoài ngành nghề nhân sự còn cần xem xét thêm các ngành liên quan đến xử lý dữ liệu, cổng thông tin và những hoạt động thực tế khác của nền tảng.
Chuẩn bị hồ sơ tại Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh
Hồ sơ thành lập công ty phải bảo đảm sự thống nhất giữa các thông tin về tên doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở, vốn điều lệ, ngành nghề, người đại diện theo pháp luật và cơ cấu thành viên hoặc cổ đông.
Sai khác giữa Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp, Điều lệ và danh sách thành viên hoặc cổ đông có thể dẫn đến yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ.
Tùy từng loại hình công ty, bộ hồ sơ cơ bản bao gồm:
Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp.
Điều lệ công ty.
Danh sách thành viên hoặc danh sách cổ đông sáng lập theo trường hợp tương ứng.
Bản sao giấy tờ pháp lý của cá nhân, tổ chức tham gia góp vốn.
Văn bản cử người đại diện theo ủy quyền nếu thành viên hoặc cổ đông là tổ chức.
Hồ sơ đầu tư trong trường hợp có nhà đầu tư nước ngoài.
Văn bản ủy quyền cho cá nhân hoặc tổ chức thực hiện thủ tục nếu nhà đầu tư không trực tiếp nộp hồ sơ.
Biểu mẫu đăng ký được sử dụng theo Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư số 68/2025/TT-BTC. Mẫu áp dụng cụ thể phụ thuộc vào loại hình doanh nghiệp mà nhà đầu tư lựa chọn.
Sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, công ty còn phải thực hiện các công việc liên quan đến công bố nội dung đăng ký, tài khoản ngân hàng, thuế, hóa đơn và chữ ký số. Doanh nghiệp có sử dụng người lao động đồng thời phải hoàn thiện nghĩa vụ bảo hiểm xã hội, quản lý lao động và bảo vệ thông tin cá nhân của ứng viên, người lao động.
Dịch vụ luật sư hỗ trợ thành lập công ty cung ứng nhân sự tại Tư vấn Long Phan
Việc thành lập doanh nghiệp cung ứng nhân sự cần được thực hiện trên cơ sở phân loại đúng hoạt động, xử lý phù hợp các quy định chuyển tiếp và thiết lập cơ chế vận hành tương ứng với từng mô hình. Tư vấn Long Phan hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình xây dựng cấu trúc đầu tư, đăng ký thành lập và kiểm soát các nghĩa vụ chuyên ngành.
Phạm vi hỗ trợ được xác định căn cứ vào nhu cầu và mô hình cụ thể của Quý khách hàng, bao gồm:
Thẩm định mô hình kinh doanh: xác định hoạt động dự kiến thuộc dịch vụ việc làm, cho thuê lại lao động hay đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.
Tư vấn cấu trúc đầu tư: hỗ trợ lựa chọn loại hình doanh nghiệp, cơ cấu vốn, người đại diện và phương án tiếp cận thị trường trong trường hợp có nhà đầu tư nước ngoài.
Đại diện đăng ký doanh nghiệp: rà soát mã ngành, chuẩn hóa thành phần hồ sơ và làm việc với Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh.
Rà soát quy định chuyển tiếp: xử lý trường hợp giấy phép cũ, hồ sơ cấp phép chưa giải quyết và phương án rút khoản tiền ký quỹ.
Thiết lập điều kiện cho thuê lại lao động: hỗ trợ thực hiện thông báo, ký quỹ 2 tỷ đồng và kiểm tra phạm vi công việc được phép bố trí lao động thuê lại.
Thẩm định mô hình nhân sự nội bộ: đánh giá cơ chế tuyển dụng, trả lương và điều hành người lao động giữa các pháp nhân trong cùng tập đoàn.
Soạn thảo hợp đồng B2B: xây dựng hợp đồng dịch vụ tuyển dụng, hợp đồng cho thuê lại lao động và phân bổ trách nhiệm giữa các bên.
Thiết lập quản trị lao động và dữ liệu: hoàn thiện hồ sơ về bảo hiểm xã hội, nội quy, thang bảng lương và cơ chế xử lý thông tin ứng viên.
Quý doanh nghiệp có thể gửi hồ sơ qua Email info@longphanpmt.com hoặc Zalo 0906.735.386 để Tư vấn Long Phan xem xét sơ bộ mô hình và xác định phạm vi thủ tục cần thực hiện.
Kết luận
Thành lập doanh nghiệp cung ứng lao động cần bắt đầu từ việc phân biệt chính xác giữa dịch vụ việc làm, cho thuê lại lao động và hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Từ ngày 01/7/2026, doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý cơ chế thông báo đối với dịch vụ việc làm, khoản ký quỹ 2 tỷ đồng đối với cho thuê lại lao động cùng các nghĩa vụ về hợp đồng, tiền lương, bảo hiểm xã hội và dữ liệu người lao động. Việc đăng ký đúng ngành nghề nhưng tổ chức hoạt động không đúng bản chất pháp lý vẫn có thể làm phát sinh rủi ro trong quá trình vận hành. Tư vấn Long Phan cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900 63 63 89 để được tư vấn miễn phí.



Nhận xét
Đăng nhận xét