Chứng chỉ năng lực xây dựng bị bãi bỏ doanh nghiệp cần làm gì
Việc bãi bỏ chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức từ ngày 01/7/2025 đã tạo ra sự thay đổi đáng kể trong cách doanh nghiệp xây dựng chứng minh năng lực khi tham gia dự án, đấu thầu và ký kết hợp đồng. Thay vì phụ thuộc vào chứng chỉ năng lực của tổ chức, doanh nghiệp chuyển sang cơ chế tự công khai thông tin và chịu trách nhiệm về năng lực thực tế của mình. Tư vấn Long Phan sẽ phân tích các quy định liên quan và những nội dung doanh nghiệp cần lưu ý trong quá trình chuyển đổi sang cơ chế quản lý mới.
Bãi bỏ chứng chỉ năng lực tổ chức và chuyển sang cơ chế công khai năng lực
Chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức đã không còn được duy trì theo cơ chế quản lý trước đây. Doanh nghiệp tham gia lĩnh vực xây dựng hiện chuyển sang phương thức tự công khai thông tin về năng lực, đồng thời phải bảo đảm những nội dung được công bố phản ánh đúng tình hình thực tế.
Một số điểm doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý gồm:
Kể từ ngày 01/7/2025, chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức đã bị bãi bỏ hoàn toàn và không tiếp tục được cấp mới hoặc cấp lại dưới bất kỳ hình thức nào.
Doanh nghiệp không còn phải thực hiện thủ tục xin cấp chứng chỉ năng lực tổ chức mà chuyển sang tự công khai thông tin năng lực theo quy định.
Tổ chức phải chịu trách nhiệm đối với tính trung thực, chính xác của những thông tin năng lực đã công khai.
Việc bãi bỏ chứng chỉ năng lực của tổ chức không đồng nghĩa với việc bỏ yêu cầu về chứng chỉ hành nghề của cá nhân. Các chức danh chuyên môn thuộc trường hợp pháp luật yêu cầu vẫn phải đáp ứng điều kiện và có chứng chỉ hành nghề tương ứng.
Trường hợp kê khai thông tin năng lực không đúng thực tế hoặc lựa chọn tổ chức, cá nhân không đáp ứng điều kiện có thể phát sinh trách nhiệm và chế tài theo quy định pháp luật hiện hành.
Thời điểm chấm dứt yêu cầu về chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng
Từ ngày 01/7/2025, tổ chức tham gia hoạt động xây dựng không còn phải đáp ứng điều kiện về chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng như trước đây. Căn cứ được xác định tại điểm g khoản 1 Điều 56 và khoản 2 Điều 58 Luật Đường sắt 2025. Bộ Xây dựng cũng đã có hướng dẫn liên quan đến việc dừng cơ chế cấp chứng chỉ năng lực tổ chức từ thời điểm này.
Phạm vi hoạt động xây dựng sau khi bỏ chứng chỉ năng lực tổ chức
Trước ngày 01/7/2025, chứng chỉ năng lực được áp dụng đối với một số hoạt động xây dựng nhất định, trong đó có khảo sát, thiết kế, thẩm tra thiết kế, quản lý dự án, thi công và giám sát xây dựng theo Luật Xây dựng và Nghị định 175/2024/NĐ-CP. Tuy nhiên, pháp luật trước đây cũng quy định những trường hợp ngoại lệ không bắt buộc phải có chứng chỉ, do đó không phải toàn bộ hoạt động xây dựng đều thuộc diện phải xin chứng chỉ.
Từ ngày 01/7/2025, việc bỏ chứng chỉ năng lực tổ chức không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp được thực hiện mọi hoạt động xây dựng mà không cần đáp ứng điều kiện. Doanh nghiệp vẫn phải bảo đảm nguồn nhân lực, kinh nghiệm, chuyên môn và các điều kiện cần thiết khác tương ứng với công việc, dự án hoặc gói thầu mà mình tham gia.
Cơ chế quản lý năng lực được áp dụng từ ngày 01/7/2026
Từ ngày 01/7/2026, Luật Xây dựng 2025 trở thành căn cứ pháp lý chính điều chỉnh vấn đề năng lực hoạt động xây dựng. Theo khoản 6 Điều 88 Luật Xây dựng 2025, tổ chức tham gia hoạt động xây dựng phải tự công khai thông tin về năng lực trên trang thông tin điện tử của Bộ Xây dựng. Thông tin này được sử dụng làm cơ sở để chủ đầu tư tham khảo trong quá trình lựa chọn nhà thầu.
Như vậy, quá trình chuyển đổi có thể được xác định qua hai giai đoạn:
Từ ngày 01/7/2025 đến ngày 30/6/2026: chứng chỉ năng lực tổ chức được bãi bỏ theo điểm g khoản 1 Điều 56 và khoản 2 Điều 58 Luật Đường sắt 2025.
Từ ngày 01/7/2026 trở đi: doanh nghiệp thực hiện cơ chế tự công khai thông tin năng lực theo khoản 6 Điều 88 Luật Xây dựng 2025.
Cơ chế mới đặt trọng tâm vào năng lực thực tế của tổ chức, thông tin được công khai và trách nhiệm của doanh nghiệp thay vì việc sử dụng chứng chỉ năng lực như một điều kiện bắt buộc.
Giá trị của chứng chỉ năng lực được cấp trước ngày 01/7/2025
Đối với chứng chỉ năng lực đã được cấp trước ngày 01/7/2025, doanh nghiệp cần phân biệt giữa việc lưu giữ tài liệu và việc sử dụng chứng chỉ như một điều kiện pháp lý bắt buộc.
Theo cơ chế hiện hành, chứng chỉ năng lực tổ chức không còn là điều kiện bắt buộc để doanh nghiệp tham gia hoạt động xây dựng. Doanh nghiệp có thể lưu giữ chứng chỉ đã được cấp trong hồ sơ để làm tài liệu tham khảo hoặc chứng minh quá trình hoạt động, nhưng không cần tiếp tục xem đây là điều kiện bắt buộc đối với những dự án mới.
Việc không còn yêu cầu chứng chỉ năng lực cũng không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp mặc nhiên đáp ứng điều kiện thực hiện mọi công việc xây dựng. Tổ chức vẫn phải chứng minh năng lực phù hợp với yêu cầu cụ thể của từng dự án, gói thầu hoặc công việc. Từ ngày 01/7/2026, việc quản lý thông tin năng lực được thực hiện theo Luật Xây dựng 2025 và Nghị định 212/2026/NĐ-CP.
Doanh nghiệp nên công khai đầy đủ thông tin năng lực, nhân sự và kinh nghiệm để đáp ứng yêu cầu lựa chọn nhà thầu.
Phương thức quản lý năng lực xây dựng thay cho chứng chỉ tổ chức
Kể từ ngày 01/7/2026, doanh nghiệp thực hiện việc quản lý và chứng minh năng lực theo Luật Xây dựng 2025 và Nghị định 212/2026/NĐ-CP. Theo khoản 6 Điều 88 Luật Xây dựng 2025, tổ chức tham gia hoạt động xây dựng có trách nhiệm tự công khai thông tin về năng lực trên trang thông tin điện tử của Bộ Xây dựng.
Thông tin được công khai có ý nghĩa trong quá trình chủ đầu tư xem xét, đánh giá và lựa chọn tổ chức thực hiện công việc. Vì vậy, thay vì tập trung vào thủ tục xin cấp chứng chỉ năng lực tổ chức, doanh nghiệp cần chú trọng xây dựng hệ thống hồ sơ thể hiện đầy đủ năng lực thực tế.
Những tài liệu doanh nghiệp nên chuẩn bị để chứng minh năng lực
Sau khi chứng chỉ năng lực tổ chức bị bãi bỏ, doanh nghiệp nên chủ động chuẩn hóa hồ sơ năng lực phục vụ từng dự án hoặc gói thầu. Tùy theo yêu cầu thực tế, hồ sơ có thể bao gồm:
Thông tin pháp lý của doanh nghiệp;
Thông tin năng lực đã được công khai theo khoản 6 Điều 88 Luật Xây dựng 2025;
Hợp đồng, công trình đã thực hiện và tài liệu nghiệm thu nhằm chứng minh kinh nghiệm;
Danh sách nhân sự chuyên môn cùng chứng chỉ hành nghề của những chức danh thuộc diện bắt buộc;
Thông tin về thiết bị, nguồn lực kỹ thuật và năng lực tài chính trong trường hợp dự án hoặc hồ sơ mời thầu có yêu cầu.
Cần lưu ý, đây không phải là một bộ hồ sơ “thay thế chứng chỉ năng lực” với thành phần cố định áp dụng cho mọi doanh nghiệp. Chủ đầu tư vẫn chịu trách nhiệm lựa chọn tổ chức, cá nhân phù hợp theo khoản 5 Điều 88 Luật Xây dựng 2025. Các yêu cầu về nhân sự, kinh nghiệm, thiết bị và nguồn lực sẽ được xác định dựa trên đặc điểm của từng dự án, công việc hoặc gói thầu.
Trách nhiệm của doanh nghiệp trong cơ chế hậu kiểm
Việc loại bỏ chứng chỉ năng lực tổ chức không làm mất đi trách nhiệm bảo đảm năng lực thực tế của doanh nghiệp. Theo khoản 5 Điều 88 Luật Xây dựng 2025, chủ đầu tư chịu trách nhiệm về việc lựa chọn tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng. Đồng thời, tổ chức phải bảo đảm thông tin năng lực được công khai phù hợp với thực tế.
Theo khoản 1 Điều 7 Nghị định 16/2022/NĐ-CP, hành vi lựa chọn tổ chức, cá nhân không đủ điều kiện năng lực đối với các hoạt động xây dựng thuộc phạm vi điều khoản này có thể bị phạt từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng; khoản 4 Điều 7 còn quy định các biện pháp khắc phục tương ứng.
Đối với nhà thầu, Điều 24 Nghị định 16/2022/NĐ-CP quy định chế tài đối với một số hành vi hoạt động khi không đáp ứng điều kiện năng lực hoặc bố trí cá nhân không đủ điều kiện đảm nhận chức danh theo quy định.
Tuy nhiên, cần phân biệt rõ rằng doanh nghiệp không thể bị xử phạt chỉ vì không còn chứng chỉ năng lực tổ chức, bởi loại chứng chỉ này đã được pháp luật hiện hành bãi bỏ và không còn là điều kiện bắt buộc.
Do đó, trọng tâm tuân thủ hiện nay nằm ở việc bảo đảm năng lực thực tế, bố trí nhân sự đáp ứng yêu cầu và cung cấp thông tin năng lực chính xác, thay vì tiếp tục coi chứng chỉ năng lực tổ chức là điều kiện bắt buộc để hoạt động.
Doanh nghiệp cần chủ động thực hiện gì sau khi bỏ chứng chỉ năng lực?
Sau khi cơ chế chứng chỉ năng lực tổ chức được bãi bỏ, doanh nghiệp xây dựng cần chủ động điều chỉnh quy trình quản lý hồ sơ và năng lực nội bộ. Một số công việc cần được chú trọng gồm:
Rà soát, cập nhật hồ sơ năng lực của doanh nghiệp;
Kiểm tra lại thông tin về các dự án, hợp đồng và công trình đã thực hiện;
Cập nhật danh sách nhân sự chuyên môn và chứng chỉ hành nghề còn hiệu lực;
Kiểm tra điều kiện của những cá nhân đảm nhận các vị trí chuyên môn;
Chuẩn hóa thông tin năng lực để thực hiện việc công khai theo quy định;
Rà soát hồ sơ dự thầu để loại bỏ những yêu cầu hoặc tài liệu không còn phù hợp với cơ chế pháp luật mới;
Đối chiếu điều kiện năng lực của doanh nghiệp với yêu cầu cụ thể trong từng hồ sơ mời thầu, hợp đồng hoặc dự án.
Phân biệt chứng chỉ hành nghề cá nhân với chứng chỉ năng lực tổ chức
Một nội dung doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý là việc bãi bỏ chứng chỉ năng lực của tổ chức không đồng nghĩa với việc tất cả các loại chứng chỉ trong lĩnh vực xây dựng đều bị loại bỏ.
Từ ngày 01/7/2026, pháp luật xây dựng vẫn duy trì chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng đối với cá nhân thuộc trường hợp phải có chứng chỉ. Về bản chất, chứng chỉ năng lực trước đây được sử dụng để xác nhận năng lực của tổ chức, trong khi chứng chỉ hành nghề nhằm xác nhận cá nhân đáp ứng điều kiện chuyên môn và kinh nghiệm để đảm nhận chức danh hoặc thực hiện hoạt động theo quy định.
Các chức danh cá nhân thuộc diện phải có chứng chỉ hành nghề
Theo khoản 1 Điều 88 Luật Xây dựng 2025, những chức danh thuộc diện phải có chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng tương ứng gồm:
Chủ nhiệm, chủ trì lập thiết kế quy hoạch đô thị và nông thôn;
Chủ nhiệm khảo sát xây dựng;
Chủ nhiệm, chủ trì thiết kế xây dựng;
Chủ nhiệm, chủ trì thẩm tra thiết kế xây dựng;
Giám sát thi công xây dựng;
Chủ trì xác định, thẩm tra và quản lý chi phí đầu tư xây dựng.
Tuy nhiên, khi áp dụng quy định từ ngày 01/7/2026, doanh nghiệp cần kết hợp với Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP và Nghị định 212/2026/NĐ-CP liên quan đến việc cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh. Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
Theo khoản 1 Điều 28 Nghị định 212/2026/NĐ-CP, các lĩnh vực cấp chứng chỉ hành nghề hiện gồm bốn nhóm chính:
Khảo sát xây dựng, bao gồm khảo sát địa hình và khảo sát địa chất công trình;
Lập quy hoạch đô thị và nông thôn;
Thiết kế xây dựng, bao gồm thiết kế kiến trúc theo pháp luật về kiến trúc, thiết kế xây dựng công trình và thiết kế cơ – điện công trình;
Giám sát thi công xây dựng, bao gồm giám sát công tác xây dựng công trình và giám sát công tác lắp đặt thiết bị công trình.
Ngoài ra, khoản 2 Điều 88 Luật Xây dựng 2025 quy định chỉ huy trưởng công trường, chủ trì kiểm định xây dựng và giám đốc quản lý dự án đầu tư xây dựng phải đáp ứng điều kiện về năng lực và kinh nghiệm nghề nghiệp. Các chức danh này không được xếp vào nhóm bắt buộc phải có chứng chỉ hành nghề tại khoản 1 Điều 88.
Điều kiện và thủ tục cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng
Điều 89 Luật Xây dựng 2025 quy định cá nhân đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng phải đáp ứng hai nhóm điều kiện cơ bản, gồm:
Có trình độ chuyên môn phù hợp với nội dung đề nghị cấp chứng chỉ;
Có thời gian và kinh nghiệm tham gia công việc phù hợp với nội dung đề nghị cấp chứng chỉ.
Các yêu cầu cụ thể được quy định tại Điều 33 Nghị định 212/2026/NĐ-CP. Bên cạnh yêu cầu về năng lực hành vi và điều kiện cư trú, lao động trong trường hợp có yếu tố nước ngoài, cá nhân phải đáp ứng điều kiện chuyên môn, kinh nghiệm tương ứng với hạng chứng chỉ.
Cụ thể:
Hạng I: có trình độ đại học phù hợp và tối thiểu 07 năm kinh nghiệm;
Hạng II: có trình độ đại học phù hợp và tối thiểu 04 năm kinh nghiệm;
Hạng III: có tối thiểu 02 năm kinh nghiệm đối với trình độ đại học hoặc 03 năm đối với trình độ cao đẳng, đồng thời đáp ứng các yêu cầu chuyên môn tương ứng.
Ngoài các điều kiện chung, người đề nghị cấp chứng chỉ còn phải đáp ứng yêu cầu về kinh nghiệm nghề nghiệp đối với từng lĩnh vực và từng hạng chứng chỉ. Chẳng hạn, Điều 34 Nghị định 212/2026/NĐ-CP quy định riêng về kinh nghiệm đối với chứng chỉ hành nghề khảo sát xây dựng; các điều khoản tiếp theo quy định yêu cầu tương ứng đối với quy hoạch, thiết kế và giám sát.
Về hồ sơ và phương thức thực hiện, Điều 30 Nghị định 212/2026/NĐ-CP quy định cá nhân nộp 01 bộ hồ sơ theo Điều 39 đến cơ quan có thẩm quyền bằng một trong các phương thức: trực tiếp tại Bộ phận Một cửa, thông qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Thời gian giải quyết được xác định tại khoản 2 Điều 30 Nghị định 212/2026/NĐ-CP như sau:
06 ngày làm việc đối với trường hợp cấp mới thuộc trường hợp luật định, tính từ ngày có thông báo kết quả đánh giá hồ sơ đủ điều kiện;
05 ngày làm việc đối với trường hợp cấp lại;
11 ngày làm việc đối với trường hợp cấp chuyển đổi thuộc trường hợp luật định, tính từ ngày có thông báo kết quả đánh giá hồ sơ đủ điều kiện.
Doanh nghiệp thành lập sau ngày 01/7/2025 có được hoạt động xây dựng không?
Doanh nghiệp được thành lập sau ngày 01/7/2025 vẫn có thể tham gia hoạt động xây dựng nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện áp dụng đối với công việc mà mình thực hiện.
Việc thành lập doanh nghiệp sau thời điểm bãi bỏ chứng chỉ năng lực không phải là căn cứ để loại doanh nghiệp khỏi hoạt động xây dựng. Từ ngày 01/7/2025, tổ chức không còn phải có chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng như một điều kiện bắt buộc.
Từ ngày 01/7/2026, năng lực của doanh nghiệp được quản lý theo Luật Xây dựng 2025 và Nghị định 212/2026/NĐ-CP, có hiệu lực cùng ngày.
Điều kiện để doanh nghiệp mới dự thầu và ký hợp đồng xây dựng
Theo khoản 5 Điều 88 Luật Xây dựng 2025, chủ đầu tư chịu trách nhiệm lựa chọn tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng. Đồng thời, khoản 6 Điều 88 yêu cầu tổ chức tham gia hoạt động xây dựng tự công khai thông tin năng lực trên trang thông tin điện tử của Bộ Xây dựng.
Doanh nghiệp mới cần tập trung chứng minh những yếu tố như:
Nhân sự đáp ứng điều kiện năng lực; đối với cá nhân thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 88 Luật Xây dựng 2025, phải có chứng chỉ hành nghề phù hợp;
Kinh nghiệm, thiết bị và nguồn lực đáp ứng yêu cầu của công việc hoặc gói thầu;
Năng lực tài chính nếu hồ sơ lựa chọn nhà thầu có quy định yêu cầu;
Thông tin năng lực được công khai theo khoản 6 Điều 88 Luật Xây dựng 2025.
Đối với các dự án sử dụng vốn nhà nước, việc không còn yêu cầu chứng chỉ năng lực tổ chức không đồng nghĩa doanh nghiệp tự động đáp ứng điều kiện để trúng thầu. Doanh nghiệp vẫn phải đáp ứng đầy đủ tiêu chí được quy định trong hồ sơ mời thầu và các quy định pháp luật về đấu thầu có liên quan đến từng gói thầu.
Hậu quả khi thông tin năng lực được công khai không chính xác
Cơ chế tự công khai thông tin đặt trách nhiệm lớn hơn lên doanh nghiệp trong việc kiểm soát và cập nhật dữ liệu năng lực. Việc không còn chứng chỉ năng lực không làm mất đi yêu cầu doanh nghiệp phải có năng lực thực tế để thực hiện công việc.
Khoản 6 Điều 88 Luật Xây dựng 2025 yêu cầu tổ chức tự công khai thông tin năng lực. Trong khi đó, khoản 7 Điều 88 giao Chính phủ quy định chi tiết về nội dung công khai và việc quản lý thông tin trên Hệ thống thông tin, Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng.
Bên cạnh đó, Điều 7 và Điều 24 Nghị định 16/2022/NĐ-CP vẫn quy định các chế tài đối với hành vi liên quan đến việc lựa chọn tổ chức, cá nhân không đủ điều kiện năng lực hoặc hoạt động xây dựng khi không đáp ứng điều kiện năng lực.
Tuy nhiên, những quy định trước đây gắn trực tiếp với việc tổ chức không có chứng chỉ năng lực cần được áp dụng phù hợp với Luật Xây dựng 2025, bởi chứng chỉ năng lực của tổ chức hiện không còn là điều kiện bắt buộc.
Vì vậy, doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp mới thành lập, cần ưu tiên xây dựng năng lực thực tế, duy trì đội ngũ nhân sự phù hợp, lưu trữ tài liệu chứng minh kinh nghiệm và kiểm tra tính chính xác của thông tin trước khi công khai.
Tự công khai năng lực trở thành phương thức quản lý mới
Thay vì sử dụng chứng chỉ năng lực của tổ chức làm căn cứ chính để chứng minh điều kiện tham gia hoạt động xây dựng, doanh nghiệp hiện phải chủ động công khai thông tin năng lực và chịu trách nhiệm đối với nội dung đã công bố.
Sự thay đổi này đòi hỏi doanh nghiệp phải chuyển từ cách tiếp cận dựa trên giấy chứng nhận sang việc quản lý năng lực thực chất. Hồ sơ nhân sự, kinh nghiệm thực hiện dự án, hợp đồng, công trình, thiết bị, nguồn lực tài chính và các thông tin liên quan cần được cập nhật thường xuyên, thống nhất với dữ liệu công khai.
Dịch vụ tư vấn tuân thủ sau khi bãi bỏ chứng chỉ năng lực tại Tư vấn Long Phan
Tư vấn Long Phan hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng, đơn vị tư vấn thiết kế và nhà thầu rà soát, thích ứng với những thay đổi của pháp luật sau khi chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức được bãi bỏ. Nội dung công việc gồm:
Rà soát hồ sơ năng lực nội bộ và tư vấn phương án chuẩn hóa hồ sơ dự thầu phù hợp với quy định mới;
Tư vấn điều kiện, hồ sơ và trình tự đề nghị cấp, cấp lại, cấp chuyển đổi chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng cho nhân sự chủ chốt theo quy định mới nhất;
Rà soát, cập nhật điều khoản hợp đồng thi công, hồ sơ mời thầu và hồ sơ dự thầu dựa trên căn cứ pháp lý hiện hành;
Tư vấn xử lý các vấn đề phát sinh khi doanh nghiệp được cơ quan chuyên môn về xây dựng kiểm tra, hậu kiểm về điều kiện năng lực;
Đại diện khách hàng làm việc với Sở Xây dựng và cơ quan chuyên môn về xây dựng trong quá trình thực hiện thủ tục có liên quan.
Quý doanh nghiệp có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email info@longphanpmt.com hoặc Zalo 0906.735.386.
Giải đáp các vấn đề thường gặp về chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng
Sau khi chứng chỉ năng lực của tổ chức được bãi bỏ, doanh nghiệp vẫn có thể gặp nhiều câu hỏi liên quan đến giá trị của chứng chỉ cũ, điều kiện tham gia đấu thầu, yêu cầu đối với nhân sự và cách chứng minh năng lực. Một số vấn đề thường được quan tâm gồm:
Chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức hiện còn được cấp không?
Không. Chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức đã được bãi bỏ từ ngày 01/7/2025 theo điểm g khoản 1 Điều 56 Luật Đường sắt 2025. Theo đó, cơ quan có thẩm quyền đã dừng cơ chế tiếp nhận hồ sơ cấp mới, cấp lại loại chứng chỉ này từ thời điểm nêu trên.
Chứng chỉ năng lực được cấp trước ngày 01/7/2025 có bị thu hồi không?
Chứng chỉ năng lực được cấp trước ngày 01/7/2025 không còn được xem là điều kiện pháp lý bắt buộc để tổ chức tham gia hoạt động xây dựng theo cơ chế hiện hành. Doanh nghiệp có thể lưu giữ tài liệu này để tham khảo hoặc phục vụ việc chứng minh quá trình hoạt động khi cần thiết.
Chứng chỉ hành nghề khác gì chứng chỉ năng lực?
Chứng chỉ năng lực trước đây xác nhận năng lực của tổ chức tham gia hoạt động xây dựng. Trong khi đó, chứng chỉ hành nghề được cấp cho cá nhân đáp ứng yêu cầu về chuyên môn và kinh nghiệm để đảm nhận những chức danh hoặc thực hiện công việc thuộc trường hợp pháp luật quy định phải có chứng chỉ.
Doanh nghiệp không có chứng chỉ năng lực có được tham gia đấu thầu công trình sử dụng vốn nhà nước không?
Việc không có chứng chỉ năng lực tổ chức không còn là căn cứ loại doanh nghiệp khỏi hoạt động xây dựng. Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn phải đáp ứng các tiêu chí về năng lực, kinh nghiệm, nhân sự, thiết bị, tài chính và các yêu cầu khác được quy định trong hồ sơ mời thầu và pháp luật về đấu thầu áp dụng cho từng gói thầu.
Cá nhân đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng phải đáp ứng điều kiện gì?
Cá nhân phải có trình độ chuyên môn phù hợp với lĩnh vực đề nghị cấp chứng chỉ và đáp ứng thời gian, kinh nghiệm tham gia công việc theo quy định. Điều kiện cụ thể được quy định tại Điều 89 Luật Xây dựng 2025 và Điều 33, Điều 34 cùng các quy định liên quan của Nghị định 212/2026/NĐ-CP.
Doanh nghiệp mới thành lập có bị hạn chế tham gia dự án xây dựng không?
Doanh nghiệp mới thành lập không bị loại khỏi hoạt động xây dựng chỉ vì chưa có chứng chỉ năng lực tổ chức. Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn phải đáp ứng các điều kiện thực tế của công việc, đồng thời chứng minh năng lực, nhân sự, kinh nghiệm, thiết bị, nguồn lực và các tiêu chí khác theo yêu cầu của từng dự án hoặc gói thầu.
Tóm tắt nội dung chính
Chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức đã được bãi bỏ từ ngày 01/7/2025 và không còn là điều kiện bắt buộc để doanh nghiệp tham gia hoạt động xây dựng. Từ ngày 01/7/2026, cơ chế quản lý năng lực được thực hiện theo Luật Xây dựng 2025 và Nghị định 212/2026/NĐ-CP, trong đó tổ chức tham gia hoạt động xây dựng phải tự công khai thông tin năng lực và chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin đã công bố. Doanh nghiệp cũng cần phân biệt rõ chứng chỉ năng lực của tổ chức với chứng chỉ hành nghề của cá nhân, bởi các chức danh thuộc trường hợp pháp luật quy định vẫn phải đáp ứng điều kiện về chứng chỉ hành nghề.
Tư vấn Long Phan cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900 63 63 89 để được tư vấn miễn phí.
Nguồn: Chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng bị bãi bỏ: Doanh nghiệp cần làm gì?
- Hướng dẫn gia hạn tiến độ dự án đầu tư fdi theo quy định mới
- Thủ tục xin phép xây dựng nhà xưởng: Quy trình & hồ sơ



Nhận xét
Đăng nhận xét